04:40 AM 25/09/2018
Tiếng Việt English
19/06/2018
256
Hướng dẫn các nội dung liên quan Kiểm tra sau thông quan theo Nghị định 59/2018/NĐ-CP và Thông tư 39/2018/TT-BTC
Ngày 20/4/2018 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 59/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục Hải quan và Thông tư 39/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Để thống nhất trong việc thực hiện văn bản pháp luật liên quan đến công tác kiểm tra sau thông quan đã được sửa đổi tại Nghị định 59/2018/NĐ-CP và Thông tư 39/2018/TT-BTC, Tổng cục Hải quan đã có văn bản hướng dẫn các Cục Hải quan tỉnh, thành phố như sau:

1. Áp dụng hiệu lực quy định văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành:

Nghị định 59/2018/NĐ-CP và Thông tư 39/2018/TT-BTC có hiệu lực từ 05/6/2018, tất cả văn bản của Tổng cục Hải quan đã ký có nội dung trái, không phù hợp với các quy định mới thì phải thực hiện theo quy định nghị định và thông tư nêu trên kể từ ngày 05/6/2018.

Trong thời gian Tổng cục chưa ban hành sửa đổi Quy trình KTSTQ, khi thực hiện công tác KTSTQ theo Quy trình KTSTQ ban hành theo Quyết định số 1410/QĐ-TCHQ ngày 14/5/2015 phải đối chiếu với các quy định mới. Nếu có những quy định tại quy trình trái, không phù hợp với các quy định mới thì thực hiện theo quy định tại Nghị định 59/2018/NĐ-CP và Thông tư 39/2018/TT-BTC.

2. Các nội dung sửa đổi, mới cần chú ý về KTSTQ quy định tại Nghị định 59/2018/NĐ-CP và Thông tư 39/2018/TT-BTC.

2.1. Điều 141 – Thu thập thông tin phục vụ KTSTQ

2.1.1. Sửa đổi hình thức xác minh thống nhất thành một hình thức chung là thu thập thông tin (khoản 2 Điều 141):

Cơ quan hải quan được thu thập thông tin trước, trong và sau quá trình KTSTQ và xử lý kết quả kiểm tra sau thông quan”.

2.1.2. Quy định rõ không thực hiện thu thập thông tin trực tiếp tại trụ sở người khai hải quan (điểm b khoản 4 Điều 141)

Trường hợp thu thập thông tin trực tiếp từ người khai hải quan thì chỉ thực hiện khi người khai hải quan có văn bản đề nghị cung cấp thông tin trực tiếp tại cơ quan hải quan”.

2.2. Điều 142 – KTSTQ tại trụ sở người khai hải quan:

2.2.1. Bổ sung các trường hợp không thực hiện kiểm tra (điểm a.3.1 Điều 142):

Hồ sơ hải quan của các lô hàng giống hệt, tương tự với hồ sơ của lô hàng Chi cục hải quan đã KTSTQ và chấp nhận nội dung khai báo của cùng người khai hải quan, nếu không có thông tin mới hoặc dấu hiệu vi phạm khác. Trường hợp hồ sơ các lô hàng giống hệt, tương tự vẫn còn dấu hiệu nghi vấn thì Chi cục trưởng Chi cục hải quan báo cáo Cục trưởng Cục Hải quan xem xét xử theo thẩm quyền

2.2.2 Quy định rõ các trường hợp kiểm tra trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro thì không thực hiện kiểm tra đối với các hồ sơ đã thực hiện kiểm tra 60 ngày (điểm b.2 khoản 1 Điều 142):

Các trường hợp kiểm tra theo quy định tại khoản 2 Điều 78 Luật Hải quan (trừ các nội dung kiểm tra thuộc các trường hợp đã kiểm tra theo quy định tại điểm a khoản này).

2.2.3. Quy định rõ trường hợp người khai hải quan không chấp hành Quyết định kiểm tra (điểm b.1 khoản 3 Điều 142):

Thực hiện kiểm tra và xử ký kết quả kiểm tra khi người khai hải quan không chấp hành Quyết định kiểm tra nếu “Quá thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kiểm tra ghi trên Quyết định kiểm tra mà người khai hải quan tiến hành xử lý vi phạm hành chính theo quy định và xử lý trên cơ sở kết quả kiểm tra hồ sơ, dữ liệu của cơ quan hải quan hiện có

2.2.4. Quy định rõ việc doanh nghiệp được quyền cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu liên quan đến hồ sơ hải quan được kiểm tra (điểm b.2.2 khoản 3 Điều 142)

Trong thời gian kiểm tra, ngoài các chứng từ, tài liệu nêu tại điểm này, người khai hải quan có quyền cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu liên quan đến hồ sơ hải quan được kiểm tra”

2.2.5. Xử lý kết quả kiểm tra quy định thống nhất với Điều 143 (điểm b3 khoản 3 Điều 142):

Thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 79 Luật Hải quan, Điều 100 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP và điểm c.4 khoản 3 Điều 143 Thông tư này”.

2.3. Điều 143 – Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan:

2.3.1. Quy định rõ các trường hợp đã kiểm tra tại trụ sở cơ quan hải quan mà phát hiện có dấu hiệu vi phạm thì tiếp tục thực hiện KTSTQ tại trụ sở người khai hải quan (điểm a khoản 1 Điều 143):

Các trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điểu 78 Luật Hải quan, bao gồm cả trường hợp đã kiểm tra tại trụ sở cơ quan hải quan nhưng cơ quan hải quan phát hiện có thông tin mới hoặc dấu hiệu vi phạm khác, có rủi ro về thuế”.

2.3.2. Bổ sung quy định tại các trường hợp xem xét thực hiện thanh tra chuyên ngành (điểm c khoản 1 Điều 143):

“c) Cơ quan hải quan xem xét thực hiện thanh tra chuyên ngành theo quy định đối với các trường hợp sau:

c.1) Hồ sơ thuế, hải quan quá thời hạn kiểm tra sau thông quan;

c.2) Các trường hợp đã kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan nhưng phát hiện có thông tin mới hoặc vụ việc có tính chất phức tạp hoặc có dấu hiệu vi phạm khác

2.3.3. Quy định về việc áp dụng quản lý rủi ro trong thực hiện KTSTQ và các nội dung kiểm tra cụ thể (điểm c.3 khoản 3 Điều 143)

“c.3) Cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra theo nội dung, phạm vi của Quyết định kiểm tra trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro và kết luận theo từng nội dung đã kiểm tra”

Đặc biệt  đối với trường hợp người khai hải quan có mối quan hệ đặc biệt nhưng không khai trên tờ khai hải quan, tờ khai trị giá (nếu có) thì cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra ảnh hưởng của mối quan hệ đặc biệt tới trị giá giao dịch theo quy định tại Điều 7 Thông tư số 39/2018/TT-BTC. Chú ý thực hiện Điều 7 Thông tư số 39/2018/TT-BTC thông báo nghi vấn cho người khai hải quan theo khoản b, điểm 4 để người khai hải quan giải trình cung cấp thông tin và trên cơ sở đó cơ quan hải quan thực hiện kiểm tra thông tin theo điểm 2 điều này.

2.3.4 Quy định mới về xử lý kết quả kiểm tra (điểm c.4 khoản 3 Điều 143)

- Xử lý kết quả kiểm tra thực hiện tại các điểm từ c.4.2.1 đến c.4.2.8, tuy nhiên cần chú ý các điểm c.4.2.5; điểm c.4.2.6; điển c.4.2.7 và c.4.2.8 vì đây là các điểm quy định mới theo các lĩnh vực cụ thể.

- Quy định mới: “c.3.4) Trường hợp hết thời hạn 30 ngày cơ quan chuyên môn có thẩm quyền không có ý kiến bằng văn bản thì cơ quan hải quan ban hành kết luận trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết hạn theo điểm c.3.3 khoản này dựa trên kết quả kiểm tra và dữ liệu của cơ quan hải quan hiện có”.

- Quy định về thời gian ban hành dự thảo, thời gian giải trình của người khai hải quan và thời gian ký ban hành kết luận lần lượt là 05 ngày, 10 ngày,15 ngày kể từ ngày kết thúc kiểm tra tính theo ngày ký biên bản cuối cùng tại trụ sở người khai hải quan. Đây là điểm khác với quy định tại Thông tư 38 là 3 mốc “05 ngày làm việc”. Quy định mới này phù hợp với quy định của Luật và Nghị định.

3. Những quy định tại quy trình 1410/QĐ-TCHQ của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan không phù hợp, trái Nghị định 59/2018/NĐ-CP và Thông tư 38/2018/TT-BTC tự động bị bãi bỏ: trong đó đặc biệt chú ý

- Bỏ hình thức thu thập thông tin trực tiếp tại trụ sở người khai hải quan (điểm 2.2 khoản 2 Điều 3);

- Bỏ quy định nhận phiếu chuyển nghiệp vụ từ tham vấn sang: Nội dung: “Từ phiếu chuyển nghiệp vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Quy trình này” (điểm 2.1 khoản 2 Điều 4);

- Bỏ quy định lựa chọn để đề xuất kiểm tra tại trụ sở Chi cục KTSTQ đối với trường hợp “Nhóm hồ sơ hải quan/người khai hải quan chuyển theo quy định tại điểm g.2 khoản 3 Điều 25 Thông tư số 38/2015/TT-BTC” (tiết a.4, điểm 1.1.2 khoản 1 Điều 5);

- Bỏ toàn bộ quy định Thông báo thu thập thông tin tại trụ sở người khai hải quan (điểm c khoản 1 Điều 6).

(MP)

Tin khác
Lên đầu trang
Xem thuộc tính của văn bản
Tải văn bản về máy tính
Lưu văn bản vào thư mục cá nhân